Cơ hội và thách thức khi VIỆT NAM là "ĐẠI BẢN DOANH" trong làn sóng dịch chuyển nhà máy của doanh nghiệp dệt may

MES LAB

Well-Known Member
Ban Quản trị
Author
Trong làn sóng dịch chuyển nhà máy, nhiều doanh nghiệp dệt may sẽ tiếp tục chọn Việt Nam là đại bản doanh từ nay đến 2025.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, việc di dời chuỗi sản xuất khỏi Trung Quốc thực chất bắt đầu từ trước thương chiến Mỹ - Trung nổ ra, tuy nhiên quá trình này diễn ra nhanh hơn kể từ khi bệnh dịch COVID-19 bùng phát. Việt Nam đang là một trong những thị trường được nhiều “ông lớn” lựa chọn.

Những cái tên như Samsung, Intel, LG, Canon... đã chứng minh sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam. Thời gian vừa qua, các doanh nghiệp này không ngừng mở rộng quy mô, cùng với doanh thu và lợi nhuận tăng vọt mỗi năm. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp lĩnh vực dệt may cũng chọn thị trường Việt Nam vì lợi thế giá nhân công, tay nghề lao động, vận chuyển, chính sách,...

Theo các chuyên gia, rất khó để biết được có bao nhiêu công ty đang có ý định dịch chuyển sang Việt Nam. Nguyên nhân là do những công ty này thường giữ kín động thái để tránh làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với chính phủ và nhà cung cấp ở Trung Quốc. Tuy nhiên, gần đây, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã khảo sát, tìm hiểu việc đầu tư chuỗi sản xuất vào Việt Nam.

Trước đây Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc được xem là những "cường quốc" dệt may hàng đầu thế giới. Bây giờ các nước và vùng lãnh thổ này đang giảm dần sản xuất lĩnh vực này. Việt Nam là một thị trường có nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với các nước sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự dịch chuyển đầu tư này.

Trên thực tế sự dịch chuyển này đã xảy ra. Không chỉ dừng lại ở các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc mà sự dịch chuyển này còn đến từ các nước như Ý, Đức và thậm chí là Nga.

Hiện nhà máy dệt may của Ý đã nhanh chân rót vốn đầu tư tại cụm sản xuất quy mô lớn từ sợi - dệt - nhuộm - may ở huyện Phù Cát tỉnh Bình Định và dự án nhà máy dệt ở Khu Công nghiệp Phố Nối (tỉnh Hưng Yên). Các nhà máy của nước ngoài vào Việt Nam đã cung cấp rất lớn nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp may.

Một lưu ý nữa là lĩnh vực sản xuất chỉ, trước đây chủ yếu là đầu tư của Hàn Quốc nhưng giờ đây Việt Nam đã có tất cả các nhà máy sản xuất chỉ của các nhà đầu tư thuộc 5 nước có ngành sản xuất chỉ hàng đầu thế giới. Điều này cho thấy các nhà đầu tư trong ngành dệt may các nước đã nhìn thấy nhiều cơ hội ở Việt Nam.

Cho nên, dòng dịch chuyển đầu tư từ nay đến năm 2025 sẽ rất nhanh nhất là Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) vừa có hiệu lực, sự dịch chuyển dòng đầu tư này sẽ càng nhanh sau khi đại dịch được kiểm soát.

Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành dệt may?

Cơ hội
Thứ nhất, khi các nhà máy chuyển dịch đến Việt Nam sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước gia tăng tỉ trọng nội địa hóa, được hưởng các ưu đãi đầu tư theo cam kết từ các Hiệp định mang lại. Hiện tại Việt Nam chỉ đáp ứng nội địa từ 47-48%, và với sự gia tăng dịch chuyển đầu tư của các nước thì ngành có thể đạt 67-68% trong thời gian tới.

Thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam gia tăng giá trị sản xuất thoát khỏi làm gia công theo đơn đặt hàng. Trên thực tế tỉ trọng doanh nghiệp trong ngành dệt may trong nước làm thuần gia công đã giảm nhiều, chuyển dần sang làm FOB hay OEM,...

Thứ ba, có được thêm nguồn nguyên vật liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế theo các Hiệp định thay vì phải đi nhập khẩu với giá cao.

Thách thức
Cơ hội là thế, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp phải thách thức nhất định trước làn sóng dịch chuyển này.

Thứ nhất, doanh nghiệp sản xuất Việt Nam sẽ phải nâng cao khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài bằng cách tăng chất lượng sản phẩm cũng như các máy móc, công cụ hỗ trợ.

Thứ hai, với các doanh nghiệp làm FOB hay OEM, họ phải đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí mà nhà đầu tư nước ngoài đề ra. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt phải thay đổi tư duy, cách làm cũ chuyển sang phương pháp, cách làm bài bản, khoa học hơn.

Thứ ba, các doanh nghiệp FOB hay OEM trong nước cũng phải nâng cao khả năng cạnh tranh với nhau thì mới có thể trở thành đối tác của các Doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, cũng không nên bị thụ động, coi đó là hướng phát triển duy nhất của Doanh nghiệp bởi Đối tác có thể ngừng hợp tác với bạn bất cứ lúc nào.

Thứ tư, rào cản về văn hoá là khó khăn khi doanh nghiệp Việt làm việc với doanh nghiệp nước ngoài. Mỗi nước sẽ có một đặc trưng văn hoá, phong cách làm việc khác nhau. Vì vậy, muốn có sự hợp tác tốt thì doanh nghiệp Việt Nam phải có sự am hiểu nhất định về văn hoá của đối tác. Khía cạnh này không thuộc về vấn đề chuyên môn nhưng cũng là điều Doanh nghiệp Việt cần lưu ý.

Ngoài những cơ hội và thách thức nêu trên? Theo các bạn, Doanh nghiệp Việt còn có những cơ hội nào, và thách thức nào cần đối mặt nữa?
Link bài viết: https://nhipcaudautu.vn/kinh-doanh/...yen-nha-may-cua-doanh-nghiep-det-may-3337188/
 

Đặt mua Tài liệu Thiết kế & Phát triển sản phẩm với giá ưu đãi

Last edited:
Moderator
Theo mình nghĩ rào cản về văn hoá không phải là một thách thức. Các doanh nghiệp đến từ Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc đã và đang có các văn phòng, nhà máy ở Việt Nam. Chúng ta cũng đã quen với cách làm việc của họ. Và theo như mình, dưới góc nhìn doanh nghiệp Việt Nam, cảm thấy không có khó khăn khi có sự khác biệt về văn hoá.
 

MES LAB

Well-Known Member
Ban Quản trị
Author
Theo mình nghĩ rào cản về văn hoá không phải là một thách thức. Các doanh nghiệp đến từ Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc đã và đang có các văn phòng, nhà máy ở Việt Nam. Chúng ta cũng đã quen với cách làm việc của họ. Và theo như mình, dưới góc nhìn doanh nghiệp Việt Nam, cảm thấy không có khó khăn khi có sự khác biệt về văn hoá.
Cảm ơn ý kiến của bạn. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng hiểu và quen biết hết văn hoá, phong cách làm việc của họ.
VÍ DỤ: doanh nghiệp A muốn cạnh tranh với các đối thủ khác để giành quyền hợp tác với một doanh nghiệp Hàn Quốc.
Nếu doanh nghiệp A có chuyên gia người Hàn hoặc nhân sự biết tiếng Hàn, am hiểu văn hoá của người Hàn thì đây sẽ là một lợi thế cạnh tranh lớn so với các đối thủ khác.
 
Moderator
Trước mắt thị trường VN sẽ là khá ổn cho các bạn trẻ tìm việc và thử sức vs môi trường chuyên nghiệp. Còn về lâu dài thì mình chưa có trình độ đánh giá :))
 
Trước mắt thị trường VN sẽ là khá ổn cho các bạn trẻ tìm việc và thử sức vs môi trường chuyên nghiệp. Còn về lâu dài thì mình chưa có trình độ đánh giá :))
Mình có ý kiến ngược lại với bạn. Có nhiều người nói rằng doanh nghiệp nước ngoài sẽ đào tạo tác phong rất là tốt, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhật. Trong trường đại học, các bạn sinh viên chỉ có phần nhỏ là chú tâm vào việc học. Còn lại hầu hết học cho có, để có bằng tốt nghiệp. Sau khi ra trường không có kiến thức gì. Việc vào các doanh nghiệp nước ngoài - nơi có tác phong làm việc chuyên nghiệp đã được kiểm chứng - sẽ giúp các bạn ấy rất nhiều.
https://tuyensinhso.vn/goc-sinh-vie...en-de-phai-bo-do-viec-hoc-dai-hoc-c44809.html
 

ndpdpu

New Member
Theo mình thì cơ hội trong thời gian tới là rất lớn, nhưng điều quan trọng là các doanh nghiệp phải nắm bắt cơ hội và làm chủ công nghệ chứ không thì mãi chúng ta chỉ đi làm thuê thôi.
 

MES LAB

Well-Known Member
Ban Quản trị
Author
Theo mình thì cơ hội trong thời gian tới là rất lớn, nhưng điều quan trọng là các doanh nghiệp phải nắm bắt cơ hội và làm chủ công nghệ chứ không thì mãi chúng ta chỉ đi làm thuê thôi.
Đồng ý với bạn.
Mình bổ sung thêm chút, để làm chủ công nghệ thì các Doanh nghiệp Việt cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng ngay từ bây giờ bởi nó cần có sự đầu tư lớn về thời gian, tài chính và cả nhân lực, v.v...
 
Last edited:
Top